Thi các Thi Các Truyen.org

Thảo luận trong 'Thơ' bắt đầu bởi Mạn Nguyệt, 16 Tháng tám 2015.

  1. Mạn Nguyệt

    Mạn Nguyệt Administrator Staff Member Admin

    Thi Các Truyen.org- Thi Đàn Thơ Ca Cho Thi Sĩ và Thành Viên Yêu Thơ Ca.

    Giới thiệu chung:


    - Thi Các là nơi các thi sĩ dừng chân để cho ra đời những câu ca, vần thơ hay. Đây cũng là nơi cho các thi sĩ giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sáng tác, bình phẩm thơ ca.
    - Các thành viên yêu thơ cũng có thể vào đây đăng thơ, rồi nhờ thi sĩ nhận xét, bình phầm.
    - Thành viên cùng thi sĩ được trao đổi tự do, thoải mái.

    Hoạt động:

    - Mỗi tháng Thi các sẽ tổ chức 1 event, chủ đề của vent được đưa ra bởi người thắng cuộc ở event trước.
    - Tất cả các thành viên và Thi sĩ cùng nhau tham gia event.

    Yêu cầu:

    - Mỗi bài thơ sẽ kèm theo một hình ảnh minh họa để thơ được sống động hơn. Ảnh này sẽ do Designer @Âu Dương Tinh Vân đảm nhiệm.


    Mong các bạn sẽ tham gia nhiệt tình và ủng hộ cho Thi Các.

    Đây là nơi thảo luận góp ý cho Thi Các: http://truyen.org/threads/thao-luan-thi-cac.7267/
    Còn đây là link góp ý ảnh cho các bài thơ: http://truyen.org/threads/thao-luan-dan-anh-vao-tho.7416/
     
    Last edited: 7 Tháng mười hai 2015
  2. Mạn Nguyệt

    Mạn Nguyệt Administrator Staff Member Admin

  3. YOYo123

    YOYo123 Well-Known Member

    có "thi sĩ lão thành" và "thi sĩ không chuyên" nào tham gia ủng hộ "Thi Các" ko?? @Âu Dương Tinh Vân, [ @Ngonngubanphim, @babylikemilk, @Anme Ganami, @Lạc Huân, @Mạc Tuyết Y, @Bạch Cừu CTCN, @Yuuki Satochi, @Hạo Nhiên, @Tuong tu, @Caiwer123, @meo móm, @Âu Dương Tinh Vân, @Phong Ngôn tử, @Diên Vĩ, @Miêu Kiêu Kì, @Hạ Vi Vũ, @Ly Tử Nam Kha, @Milan0204, @Vương Dương Hy s, @Nhan Tâm,.....]

    *Tagg nhiều ng quá bị mõi tay nên ko tag nữa!! :D:D
     
    Last edited: 17 Tháng tám 2015
    Genny, Ánh kận, Hunri and 11 others like this.
  4. YOYo123

    YOYo123 Well-Known Member

    có ai bình phẩm về bài thơ làm mình bị "trượt" này ko??

    NÚI THÔNG: [Tre Xanh]

    Núi thông Đà Lạt đằng phương xa,
    Thông đỏ lại mọc ở gần nhà.
    Lá cây thông xanh thì nhạt dần,
    Thân cao sần trắng như tóc bà.
     
    Last edited: 16 Tháng tám 2015
  5. Mạc Tuyết Y

    Mạc Tuyết Y Người Đi Qua Nắng Biên tập viên Tác giả Hạng 1 Tài năng sáng tác trẻ

    Bi Tình

    Hỏi thế gian tình ái là chi?
    Người chờ kẻ đợi vướng tình bi
    Thương nhau như thế hà chi?
    Âm dương cách biệt mới bi chữ tình.
    ~ Mạc Tuyết Y~ Một ngày buồn ​
    @Dạ Nguyệt ơi, em lập thêm mục thảo luận riêng nha, như thế này trôi thơ nhanh lắm. :)
     
  6. YOYo123

    YOYo123 Well-Known Member

    THI TRƯỢT! [Tre Xanh]

    Thuở đâu mà tôi bị trượt,
    Cả bốn năm rồi, lần lượt bị trượt!
    Chừng nào thì mới đậu được,
    Lần này thi lại, cá cược một phen!!

    P/s: [tâm sự của 1 ng thi đại học lun bị trượt] @Dạ Nguyệt, @Tuong tu, @Yuuki Satochi, @Hạo Nhiên
    :rolleyes::rolleyes::rolleyes:
     
    Last edited: 17 Tháng tám 2015
    Genny, Hứa Ngạn, Hunri and 11 others like this.
  7. Diên Vĩ

    Diên Vĩ Mộc Lan Thảo <3 Staff Member Converter Thi sĩ Collect team

    @@ Sau một hồi lượn lờ em nó post cái này cho mọi người! Đọc xong không biết có trau dồi vốn thơ không?

    THƠ TỨ TUYỆT
    Thơ tứ tuyệt đã có từ lâu, trước khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú. Đầu tiên, thơ tứ tuyệt có nghĩa khác với nghĩa hiện tại: “tứ” là bốn và “tuyệt” có nghĩa là tuyệt diệu. Bài thơ chỉ có 4 câu mà diễn tả đầy đủ ý nghĩa của tác giả muốn trình bày nên người ta mới gọi 4 câu thơ đó là tứ tuyệt.

    Tuy nhiên, sau khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú (luật thi) vào đời nhà Đường, thì thơ tứ tuyệt lại phải được làm theo quy tắc về niêm, vần, luật, đối của lối thơ thất ngôn hay ngũ ngôn bát cú. Vì vậy, sau nầy người ta giải thích chữ “tuyệt” là ngắt hay dứt. Nghĩa là thơ tứ tuyệt là do người ta làm theo cách ngắt lấy 4 câu trong bài bát cú để làm ra bài tứ tuyệt. Do đó niêm, vần, luật, đối của bài tứ tuyệt phải tùy theo cách ngắt từ bài bát cú mà thành.

    Thơ tứ tuyệt có 2 thể là luật trắc vần bằng và luật bằng vần bằng.
    Mỗi thể đều có một Bảng Luật coi như "công thức" căn bản mà người làm thơ phải tuân theo.
    I, TỨ TUYỆT LUẬT TRẮC VẦN BẰNG (không đối)

    Sau đây là Bảng Luật Thơ Tứ Tuyệt Luật Trắc Vần Bằng:

    BẢNG LUẬT:

    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)

    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ).
    Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau.

    Bài thơ thí dụ để minh họa:

    1.
    Thuở ấy tuy còn tuổi ấu thơ
    Mà sao vẫn nhớ đến bây giờ
    Xuân về nũng nịu đòi mua pháo
    Để đón giao thừa thỏa ước mơ

    (Hoàng Thứ Lang)


    2.
    Dõi mắt tìm ai tận cuối trời
    Thu về chiếc lá ngậm ngùi rơi
    Cay cay giọt lệ sầu chan chứa
    Mộng ước tình ta đã rã rời
    (Hoàng Thứ Lang)


    3.
    Một nửa vầng trăng rụng xuống cầu
    Đôi mình cách trở bởi vì đâu
    Canh tàn khắc lụn hồn tê tái
    Đối bóng đèn khuya nuốt lệ sầu
    (Hoàng Thứ Lang)


    II, TỨ TUYỆT LUẬT BẰNG VẦN BẰNG (không đối)

    Sau đây là Bảng Luật Thơ Tứ Tuyệt Luật Trắc Vần Bằng:

    BẢNG LUẬT:

    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)


    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ).
    Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau.

    Bài thơ thí dụ để minh họa:

    1.
    Đôi mình cách biển lại ngăn sông
    Dõi mắt tìm nhau nhỏ lệ hồng
    Ngắm ánh trăng thề thương kỷ niệm
    Đêm trường thổn thức nhớ mênh mông

    (Hoàng Thứ Lang)


    2.
    Đêm nghe tiếng gió nhớ miên man
    Mộng ước tình ta đã lụn tàn
    Thánh thót hiên ngoài mưa rả rích
    Mi buồn lệ ứa mãi không tan
    (Hoàng Thứ Lang)


    3.
    Rừng phong nhuộm tím cả khung trời
    Lá úa lìa cành gió cuốn rơi
    Lối cũ đường xưa em đếm bước
    Miên man kỷ niệm đã xa vời
    (Hoàng Thứ Lang)

    Sau đây là Luật về Điệu thơ:

    Điệu thơ là cách xếp đặt các tiếng trong câu thơ sao cho êm tai dễ đọc để bài thơ có âm hưởng du dương trầm bổng như nhạc điệu.

    Điệu thơ gồm có 3 phần chính như sau:

    1. Nhịp điệu: thơ ĐL nhịp chẵn, ngắt nhịp 2 hoặc 4 tiếng trọn nghĩa.

    2. Âm điệu: nên làm theo chính luật để bài thơ có âm điệu êm tai trầm bổng.

    3. Vần điệu: nên gieo vần ở cuối các câu 1-2-4-6-8 xen kẻ tiếng không có dấu và tiếng có dấu huyền để bài thơ khi đọc lên nghe du dương trầm bổng như điệu nhạc. Ngoài ra chúng ta nên cố gắng gieo vần chính vận. Sau nầy khi "nhuyễn" rồi chúng ta có thể theo thông vận và theo luật bất luận. Muốn cho bài thơ có âm điệu hay thì tiếng thứ 4 và tiếng thứ 7 của những câu luật trắc vần bằng không nên dùng trùng một thanh bằng. Nghĩa là nếu tiếng thứ 4 không dấu thì tiếng thứ 7 phải dấu huyền và ngược lại. Tuy nhiên nếu không tìm được từ nào khác có ý nghĩa hay hơn thì chúng ta dùng trùng cũng được mà vẫn không bị sai luật thơ.
    III, THƠ TỨ TUYỆT VẦN BẰNG - 2 VẦN


    Thơ Tứ Tuyệt Vần Bằng 2 vần cũng có hai thể:
    - Luật Trắc Vần Bằng.
    - Luật Bằng Vần Bằng.


    Đầu tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về Tứ Tuyệt Luật Trắc Vần Bằng - 2 vần.

    Sau đây là Bảng Luật Thơ Tứ Tuyệt Luật Trắc Vần Bằng - 2 vần:

    1. THƠ TỨ TUYỆT LUẬT TRẮC VẦN BẰNG - 2 VẦN (KHÔNG ĐỐI)

    BẢNG LUẬT:


    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)



    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn.
    Các tiếng cuối của các câu 2 và 4 bắt buộc phải cùng vần với nhau.


    Trước khi đi vào chi tiết của bài Tứ Tuyệt Luật Trắc Vần Bằng - 2 vần, chúng ta thử cùng nhau ngắt bài thơ Thất Ngôn Bát Cú ra thành nhiều bài Tứ Tuyệt để "nghiên cứu" và phân tích.

    Bài thơ Thất Ngôn Bát Cú có thể ngắt thành 4 bài thơ Tứ Tuyệt theo 4 cách như sau:
    - Bài 1: 4 câu đầu (1-4).
    - Bài 2: 4 câu cuối (5-8 ).
    - Bài 3: 4 câu giữa (3-6).
    - Bài 4: 2 câu đầu (1-2) và 2 câu cuối (7-8 ).


    Thí dụ: bài thơ sau đây:

    THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ

    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
    Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    Nước còn cau mặt với tang thương
    Ngàn xưa gương cũ soi kim cổ
    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
    (Bà Huyện Thanh Quan)



    Ngắt ra:

    1.
    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
    Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương


    2.
    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    Nước còn cau mặt với tang thương
    Ngàn xưa gương cũ soi kim cổ
    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường


    3.
    Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
    Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    Nước còn cau mặt với tang thương


    4.
    Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
    Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
    Ngàn xưa gương cũ soi kim cổ
    Cảnh đấy người đây luống đoạn trường


    Nhận xét:

    Bài 1: Tứ Tuyệt 3 vần bằng.
    Bài 2: Tứ Tuyệt 2 vần bằng.
    Bài 3: Tứ Tuyệt 2 vần bằng.
    Bài 4: Tứ Tuyệt 3 vần bằng.


    Như vậy bài thơ Tứ Tuyệt có loại 3 vần và có loại 2 vần.

    Phân tích kỹ hơn, chúng ta nhận thấy một bài thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật là do hai bài thơ Tứ Tuyệt ghép lại mà thành, 4 câu đầu là Tứ Tuyệt 3 vần, 4 câu sau là Tứ Tuyệt 2 vần. Điểm đặc biệt đáng lưu ý là 4 câu giữa (3-4-5-6) đối nhau từng cặp một (câu 3-4 đối nhau, câu 5-6 đối nhau) theo phép đối thơ loại 7 chữ (còn gọi là đối ngẫu).
    Nếu chỉ làm thơ Tứ Tuyệt thường thì chúng ta không cần làm có đối. Nếu làm thơ Thất Ngôn Bát Cú thì bắt buộc phải có đối như đã nói trên.


    Dừng lại ở thơ Tứ Tuyệt, chúng ta có thể làm nhiều bài thơ Tứ Tuyệt cùng diễn tả chung một ý (một nội dung) gọi là Tứ Tuyệt Trường Thiên, dài bao nhiêu cũng được, nhưng nên ngắt ra từng đoạn, mỗi đoạn 4 câu. Muốn làm loại 3 vần cũng được (như bài thơ Hai Sắc Hoa Ti-gôn của T.T.Kh.). Muốn làm loại 2 vần cũng được (như bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím của Kiên Giang Hà Huy Hà). Muốn làm lẫn lộn (mixed) vừa 3 vần vừa 2 vần cũng được.

    Bây giờ trở lại ý chính của bài Tứ Tuyệt 2 vần bằng. Vì chưa làm thơ Thất Ngôn Bát Cú nên chúng ta chỉ làm thơ Tứ Tuyệt không có đối (tương tự như loại 3 vần mà chúng ta đã làm ở bài 1).

    Vậy chúng ta cùng nhau bắt đầu làm bài thực hành

    BẢNG LUẬT:


    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)



    Bài thơ thí dụ để minh họa:

    1.
    Xác pháo còn vương màu mực tím
    Thư tình vẫn thắm chữ yêu thương
    Nhưng ai lại nỡ quên thề ước
    Nước mắt nào vơi nỗi đoạn trường
    (Hoàng Thứ Lang)



    2.
    Đọc áng thơ sầu sa nước mắt
    Nghe lời giã biệt giọt châu rơi
    Trời cao nỡ đoạn tình đôi lứa
    Kẻ nhớ người thương khổ cả đời
    (Hoàng Thứ Lang)



    3.
    Yến phượng lìa đàn ai oán thảm
    Uyên ương lẻ bạn ngẩn ngơ sầu
    Đôi ta cách trở ngàn sông núi
    Ngắm mảnh trăng tàn lệ thấm bâu


    (Hoàng Thứ Lang)


    4.
    Nếu chẳng cùng em chung lối mộng
    Anh vào cửa Phật nguyện tu hành
    Chuông chiều mõ sớm quên tình lụy
    Gởi lại am thiền mái tóc xanh


    (Hoàng Thứ Lang)


    2. TỨ TUYỆT LUẬT BẰNG VẦN BẰNG - 2 VẦN (KHÔNG ĐỐI)

    BẢNG LUẬT:

    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)



    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn.
    Các tiếng cuối của các câu 2 và 4 bắt buộc phải cùng vần với nhau.



    Bài thơ thí dụ để minh họa:

    1.
    Hè về đỏ thắm màu hoa phượng
    Ánh mắt buồn tênh buổi bãi trường
    Gạt lệ chia tay người mỗi ngã
    Âm thầm cố nén giọt sầu thương
    (Hoàng Thứ Lang)



    2.
    Trên sông khói sóng buồn hiu hắt
    Dõi mắt phương trời nhớ cố hương
    Trắng xóa màn sương trời chớm lạnh
    Thương ai khắc khoải đoạn can trường



    3. TỨ TUYỆT LUẬT TRẮC VẦN BẰNG (CÓ ĐỐI)

    Chúng ta bắt đầu với Tứ Tuyệt Luật Trắc Vần Bằng có đối:

    A. BẢNG LUẬT 1 (3 vần):

    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T (đối câu 4)
    T - T - B - B - T - T - B (vần) (đối câu 3)


    Thí dụ:

    Kẻ cuối người đầu một bến Tương
    Cùng nhau thức trọn suốt đêm trường
    Duyên thơ ý hợp lòng lưu luyến
    Nghĩa bút tâm đồng dạ vấn vương
    (Hoàng Thứ Lang)



    B. BẢNG LUẬT 2 (2 vần):

    T - T - B - B - B - T - T (đối với câu dưới)
    B - B - T - T - T - B - B (vần) (đối với câu trên)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)


    Thí dụ:

    Nguyệt lão không se đường chỉ thắm
    Tơ ông chẳng buộc mối dây hường
    Trăng thề đã vỡ làm hai mảnh
    Biển thảm non sầu mãi nhớ thương
    (Hoàng Thứ Lang)



    4. TỨ TUYỆT LUẬT BẰNG VẦN BẰNG (CÓ ĐỐI)

    A. BẢNG LUẬT 1 (3 VẦN):

    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    T - T - B - B - B - T - T (đối câu 4)
    B - B - T - T - T - B - B (vần) (đối câu 3)


    Bài thơ thí dụ:

    Chia tay buổi ấy nát can trường
    Gió lạnh ga chiều trắng xóa sương
    Lảnh lót còi tàu tan bóng nguyệt
    Âm u cột khói quyện hàng dương
    (Hoàng Thứ Lang)



    B. BẢNG LUẬT 2 (2 VẦN):

    B - B - T - T - B - B - T (đối với câu dưới)
    T - T - B - B - T - T - B (vần) (đối với câu trên)
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)


    Bài thơ thí dụ:

    Nhìn theo mắt tủi tuôn dòng nhớ
    Ngoảnh lại mi sầu ứa giọt thương
    Vẫy vẫy tay chào che ngấn lệ
    Vì đâu mỗi đứa một con đường

    Thơ lục bát và thơ Song thất lục bát là hai thể thơ của dân tộc Việt Nam chúng ta. Chúng ta chẳng còn xa lạ gì với thể lục bát, vì nó là những bài ca dao hàng ngày ta vẫn nghe ông bà ngâm nga, thơ song thất lục bát thì ta đã được học trong chương trình lớp 10 ở trường phổ thông. Sau đây ta cùng tìm hiểu về cách làm hai thể thơ này để phát huy thêm một nét văn hoá của người Việt chúng ta.

    I. CÁCH LÀM THƠ LỤC BÁT


    Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc ta, thơ lục bát bao gồm có thể từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác. Thơ lục bát tuân thủ luật về thanh và vần rất nghiêm ngặt, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.


    A - Luật thanh trong thơ lục bát


    Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắcnhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:
    Câu lục: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6 là Bằng (B) - Trắc (T) - Bằng
    Câu bát: theo thứ tự tiếng thứ 2-4-6-8 là B-T-B-B

    Ví dụ:


    Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân B - T - BBâng khuâng nhớ cụ, thương thân nàng Kiều B-T-B-B



    Thế nhưng đôi khi có thể tự do về tiếng thứ hai của câu lục hay câu bát, có thể biến nó thành thanh trắc. Hoặc là câu lục giữ nguyên mà câu bát thì lại theo thứ tự T-B-T-B những câu thơ thế này ta gọi là lục bát biến thể.
    Ví dụ:


    Có sáo thì sáo nước trong T-T-B

    Đừng sáo nước đục đau lòng cò con T-T-B-B


    hay:


    Con cò lặn lội bờ sông
    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non T-B-T-B


    B - Cách gieo vần trong thơ lục bát


    Thơ lục bát cí cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thiw lụch bát tính linh hoạt về vần.
    Cách gieo vần: Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát kế nó. Và tiếng thứ tám câu bát đó lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục kế tiếp. Ví dụ (những từ in nghiêng hay đậm là vần với nhau):


    Trăm năm trong cõi người ta
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
    Trải qua một cuộc bể dâu
    Những điều trông thấy mà đau đớn lòng


    Trong thể thơ lục bát biến thể vẫn gieo vần như vậy, nhưng trường hợp câu bát của cặp câu có thanh là t-b-t-b thì tiếng thứ sáu câu lục trên nó vần với tiếng thứ tư của câu đó.
    Ví dụ:


    Con cò mà đi ăn đêm
    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.


    Tiểu đối trong thơ lục bát:
    Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) cảu câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại.

    Ví dụ:


    Đau đớn thay phận đàn bà
    Lời rằng bạc mệnh cũng lời chung.



    Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát:
    Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, nhưng đôi khi để nhấn mạnh nên người ta đổi thành nhịp lẻ đó là nhịp 3/3. Nhịp thơ giúp người đọc và người nghe cảm nhận được thơ một cách chính xác hơn.

    II. CÁCH LÀM THƠ SONG THẤT LỤC BÁT

    Thơ song thất lục bát là thơ gồm có 4 câu đi liền với nhau, trong đó là hai câu 7 tiếng (câu thất 1 và câu thất 2), kế tiếp là câu lục và câu bát.
    Về luật vần ở câu lục và bát thì hoàn toàn là giống thơ lục bát, không đề cập đến. Tôi chỉ đề cập đến hai câu thất. Luât thanh không phải ở các từ 2-4-6 như các thể thơ khác mà lại chú ý vào các tiếng 3-5-7.
    Câu thất 1: các tiếng 3-5-7 theo thứ tự là T-B-T

    Câu thất 2: các tiếng 3-5-7 theo thứ tự là B-T-B

    Các tiếng 1-2-4-6 tự do về thanh.
    Ví dụ:


    Lòng này gửi gió đông có tiện T-B-T

    Nghìn vàng xin gửi đến non yên B-T-B


    Về cách gieo vần cũng khác các thể thơ khác. Các thể thơ khác chỉ gieo vần ở thanh bằng, nhưng thơ song thất lục bát gieo vần ở cả tiếng thanh trắc và thanh bằng.
    Tiếng thứ 7 của câu thất 1 thanh trắc vần với tiếng thứ 5 thanh trắc của câu thất 2. Tiếng thứ 7 của câu thất 2 thanh bằng vần với tiếng thứ 6 câu lục kế.
    Ví dụ:


    Lòng này gửi gió đông có tiện
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
    Non Yên dù chẳng tới miền
    Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời.


    Trong bài thơ có nhiều câu thơ song thất lục bát thì để nối hai nhóm câu lại về vần thì ta lấy tiếng thứ 8 thanh bằng của câu bát vần với tiếng thứ 5 thanh bằng của câu thất 1 kế tiếp.
    Ví dụ:


    Lòng này gửi gió đông có tiện
    Nghìn vàng xin gửi đến non Yên
    Non Yên dù chẳng tới miền
    Nhớ chàng đằng đẳng đường lên bằng trời
    Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu...


    Cách ngắt nhịp trong 2 câu thất của thơ này là nhịp lẻ, tức là nhịp 3/4 hay là 2/1/4.

    Làm một bài thơ đi theo các bước sau đây:

    1. Cảm xúc để hình thành ý tưởng (tứ) của bài thơ.

    Có hai cách chính để cảm xúc hình thành ý tưởng bài thơ là trực tiếp và gián tiếp. Trực tiếp là gặp một hiện thực nào đó, nhà thơ rung động rồi hình thành tứ thơ, ví dụ cảnh tắm biển Sầm Sơn, Cửa Lò, thăm chùa Bái Đính, Đền Đô… Gián tiếp là đọc một cuốn sách thấy rung động về một nhân vật lịch sử như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ…, nhà thơ từ đó mà hình thành cảm xúc.

    Cơ sở để cảm xúc không nhất thiết phải là đối tượng rộng lớn với mực độ quyết liệt nào đó, như Trường Sơn thời đánh Mỹ đối với Phạm Tiến Duật, mà còn là một cảm xúc từ một đối tượng nhỏ nhẹ, êm đềm nhưng không kém phần sâu sắc, như trường hợp Thang Ngọc Pho nằm đêm nghe tiếng con thạch sùng tặc lưỡi:

    Đi đường nhặt được tứ thơ
    Bỏ vào túi ngực lượn lờ phố đông
    Về nhà , sờ túi: rỗng không
    Thạch sùng tặc lưỡi: tiếc không hở trời.
    Một khía cạnh của cảm xúc hình thành ý tưởng phải kể đến các kiểu cảm xúc – trữ tình, triết luận hay biểu tượng. Trữ tình là kiểu thơ rất phổ biến, mà đậm đặc là thơ tình. Có thể nói, hầu hết các nhà thơ đều làm thơ tình. Thơ triết luận nói đầy đủ bao gồm thơ triết lý, thơ phản biện xã hội và thơ châm biếm-đả kích cũng được đặt vào kiểu thơ này. Kiểu thơ trữ tình gắn với nghệ thuật sáng tác lãng mạn nhiều hơn, cũng như thơ triết luận gắn với nghệ thuật hiện thực nhiều hơn. Thơ biểu tượng không thuần túy chỉ là một kiểu thơ, mà còn là một xu hướng sáng tạo nghệ thuật, bao gồm chung cho các kiểu thơ này thiên về xu hướng tượng trưng, siêu thực, huyễn tưởng…

    Nhân đây, nói về các xu hướng sáng tác. Nhìn chung, văn chương nói chung và thơ ca nói riêng đi ra từ cuộc sống, cho cuộc sống và như cuộc sống, nên luôn phát triển như cuộc sống về mọi phương diện. Mỗi xu hướng thơ đều phản ảnh tất yếu của cuộc sống, vì vậy mỗi người làm thơ không nên tự coi xu hướng thơ mình là hay, các xu hướng khác là hỏng và người đọc phải bình tĩnh tiếp nhận và đánh giá mỗi xu hướng thơ khác nhau. Qua xàng lọc công bằng của người đọc, mọi xu hướng thơ được đánh giá chính xác. Qua thời gian, xu hướng thơ ca nào trụ lại và phát triển trong lòng bạn đọc, thì đó là xu hướng thơ xứng đáng được đánh giả cao; và ngược lại! Trong một khoảng thời điểm, thơ truyền thống cũng như cách tân; các thể thơ như Đường luật, lục bát, tự do và thơ văn xuôi... cùng tồn tại và phát triển đồng hành.
    Trong nhiều trường hợp, một bài thơ chứa đựng không chỉ một, mà nhiều kiểu và xu hướng sáng tạo như vừa nêu trên.

    2.Xây dựng hình tượng bài thơ.

    Thực chất là dùng câu chữ như là chất liệu ngôn từ để hình thành nội dung bài thơ. Ví dụ, bài thơ “Nỗi niềm Tôn Ngộ Không” (của Thúy Nguyễn) thể hiện con người Ngộ Không tài giỏi và sắc sảo ra sao; Đường Tăng là người áp đặt thế nào; cuối cùng kết luận hậu quả của tình trạng không sử dụng con người tài năng sẽ ra sao khi gặp vấn nạn cuộc đời. Hoặc như bài thơ “Hai câu hỏi” của Chế Lan Viên, hình tượng là hai ngọn nến – một ngọn "tích cực" và một ngọn "tiêu cực" đối với tinh thần cộng đồng để đi đến ý đồ thi phẩm là cổ vũ cho chủ nghĩa tập thể:
    Ta là ai như ngọn nến siêu hình
    Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
    Ta vì ai khẽ xoay chiều ngọn bấc
    Bàn tay người thắp lại vạn chồi xanh.

    3.Dùng ngôn từ (thi từ-thi ngữ) để thể hiện bài thơ.

    Ý tưởng và hình tượng phải được thể hiện qua ngôn từ thi ca. Người làm thơ cần có vốn ngôn từ phong phú và có sức sáng tạo ngôn từ. Vốn ngôn từ phong phú sẽ giúp nhà thơ lựa chọn được những ngôn từ thích hợp, đắc địa cho bài thơ, thêm nữa, là giúp cho sáng tạo vần điệu hiệu quả, chẳng hạn cũng một nội dung, nhưng ngôn từ này không phù hợp vần điệu, có thể chọn lựa ngôn từ khác. Biết cách sử lý ngôn từ thích hợp cho thơ, ví dụ: “ mênh mông”, “mông mênh, “mênh mang” đều là rộng bao la, nhưng tùy từng thi cảnh mà dùng chữ nào cho phù hợp với ý tưởng hay vần – điệu của bài thơ. Cũng như “ngọt ngào” có thể đảo thành “ngào ngọt” hay “diễm huyền” đảo thành “huyền diễm trong trường hợp nhất đinh; nhưng ở mọi trường hợp không thể đảo “bùi ngùi” thành “ngùi bùi”, “lộng lẫy” thành “lẫy lộng” được!
    Nhà thơ có một niềm tự hào là được đóng góp ngôn từ của mình vào kho tàng ngôn ngữ thông qua sáng tạo thi ca của mình. Những ngôn từ như “đầy vơi”, “ngu ngơ” “bung biêng”, “hoang hoải”, nồng nả…là như vậy .

    4. Vần và điệu của bài thơ.

    Vần là luật gieo vần đối với các thể thơ, ví dụ thơ lục bát, song thất lục bát, thơ khổ với dòng có số chữ khác nhau…Điệu là nhạc điệu, âm điệu, tiết tấu… đối với thơ tự do, thơ không vần, thơ văn xuôi.
    Cần nhớ rằng vần và điệu chẳng qua là kết quả theo quy luật âm thanh của ngôn ngữ giúp ý tưởng bài thơ được bộc lộ đồng điệu với chức năng thính giác của người cảm nhận.
    Tuy nhiên, luật của vần và điệu cũng không phải là tuyệt đối. Ngay trong thơ Đường luật, vẫn chấp nhận sự linh hoạt cho phép – “nhất- tam-ngũ bất luận/nhị- tứ - lục phân minh" (xác định luật bằng - trắc trong câu thơ: Các từ một- ba-năm có thể linh hoạt; các từ hai-bốn-sáu bắt buộc); thậm chí, chấp nhận dạng thơ cổ phong không bắt buộc niêm luật như thơ Đường luật. Thơ lục bát cũng vậy: Ngoài chuẩn vận, cho phép nương vận. Ví dụ, trong Tuyện Kiều của Nguyễn Du:
    Trăm năm trong cõi người ta
    Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
    Hai câu này chuẩn vận: “ta” (a) ở câu 6” chuẩn vận với “là” (à) ở câu 8.Nhưng:
    Cảo thơm lần giở trước đèn
    Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh
    Hai câu này nương vận: “đèn” (èn) ở câu 6 nương vận với chữ “truyền” (uyền) ở câu 8.
    Nhân đây, nhắc lại một chuyện nực cười là một “nhà bình luận” bình trên trang của một tác giả: Một bài thơ cổ phong của tác giả bị “nhà bình luận” này áp đặt cho là thơ Đường luật, rồi phê phán gay gắt. Lại một trường hợp khác là: Một bài thơ lục bát gieo vần theo nương vận, thì bị phê bình theo cách nhìn chuẩn vận!

    5. Các hình thức thể hiện.

    - Trực diện hay gián diện
    Trực diện là cách mà nhà thơ xưng hô như là “tôi” (cũng là “ta” theo đặc trưng "cái tôi và cái ta” trong thơ ca) để bộc lộ cảm xúc của mình:
    Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi
    Cho tôi làm sóng dưới thân tầu đưa tiễn Bác
    (Chế Lan Viên)
    Gián diện thì rất nhiều cách, ví dụ: cách ví von thông qua các vật như như núi sông, cây cỏ, chim muông…Bài thơ "Thuyền và biển" của Xuân Quỳnh ví von "thuyền" và "biển như "anh" và "em" không thể cách xa nhau.
    - Chân mộc hay hàm ẩn:
    Chân mộc là giản đơn dễ hiểu như bài thơ “Nhớ vợ” của Cầm Giang, “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn…Hàm ẩn là là ý tưởng sâu kín, cách thể hiện cầu kỳ, ví dụ như nhiều bài thơ của các nhà thơ Xuân Diệu. Huy Cận, Chế Lan Viên…
    Một khía cạnh của chân mộc hay hàm ẩn là ý tưởng thơ nổi hay chìm. Nổi là ý tưởng bộc lộ dễ thấy; ngược lại, chìm là không dễ nắm bắt được ý tưởng của bài thơ. Tuy nhiên, dù chìm đến mức nào, nhà thơ cũng có “lối vào” để bạn đọc tiếp cận; nếu không bài thơ sẽ trở nên tắc tỵ, không khác gì nhà thơ đánh đố người đọc, như một bài toán không có đáp số!
    Song, chân mộc hay hàm ẩn , mỗi dạng đều có cái hay riêng – vấn đề là với mỗi ý bài thơ cụ thể được áp dụng cho phù hợp.
    - Tự cảm, cảm tả hay cảm kể
    Trực cảm gần như trực diện đã được nêu trên, nhưng rộng hơn – nhà thơ tự bộc lộ cảm xúc của mình.Cảm tả là tả cảnh, gắn cảnh với tình của nhà thơ, như “Chiều qua Đèo Ngang” hoặc “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan. Cảm kể là kể chuyện gắn cảm xúc của nhà thơ với chuyện kể như “Bà má Hậu Giang” hay “Chuyện em Nguyễn Văn Hòa” của Tố Hữu. Tuy nhiên, dù là cách nào, cảm xúc, tình cảm của nhà thơ cũng là nền tảng cho bài thơ bộc lộ.

     
    Last edited: 16 Tháng tám 2015
    Genny, Hunri, Hàn lỗi and 10 others like this.
  8. Dê

    ❝let’s put a smile on that face❞ Biên tập viên Converter Tác giả PR Team

    Trưa hôm qua ngồi chờ mẹ ngoài đường, em mới làm bài thơ. Nó không theo luật nào hết, ngẫu hứng nên ít gieo vần ạ.

    Trưa nay đi học về
    Bỗng chẳng thấy mẹ đâu
    Cửa nhà khóa mất tiêu
    Đứng chờ mẹ lâu quá
    Đành kéo ghế ngồi xuống,
    Chợt tức cảnh sinh tình
    Nhìn cảnh xung quanh mình
    Ngẫu hứng làm bài thơ.

    Nghe tiếng gió xào xạc
    Luồn qua luỹ tre xanh
    Bóng râm dần lùi lại
    Nhường bước cho nắng trưa
    Các chị mùng* quấn quýt
    Ưỡn thân mình trước nắng
    Đón ánh sáng trong lành
    Rồi thì thà thì thầm
    Như kể về chuyện xưa.

    Ngồi chờ mãi, chờ mãi
    Sao mẹ vẫn chưa về?
    Thời gian thật lề mề
    Ôi trưa nay thật chán!
     
  9. Caiwer123

    Caiwer123 Bơ Bơ Bơ Phéc Member

    CƠN MƯA NGANG QUA!
    Minh Long/ Thể thơ yết hậu.

    Cơn mưa bỗng chợt đi ngang qua,
    Mọi người vui vẻ, đùa hát ca.
    Tia nắng chiếu xuống đầy chan hòa,
    Mà..!

    Ồ! Bỗng mẹ về mang theo quà,
    Là chú gấu bông, mình thích nha!
    Lông hồng tím tím, có nơ xanh:
    - Chà..?



    P/s: ca @Đường Thiên Long vào góp vui cho "Thi Các truyen.org" nhé!!



     
    Last edited: 17 Tháng tám 2015
  10. Yuuki Satochi

    Yuuki Satochi Well-Known Member

    Đêm qua Yuu mới đăng bài
    Sáng nay đã có giải ôi thôi
    Yuu nay đã thua thật rồi
    Quà tặng người thắng có đôi tấm lòng
    -----
    @YOYo123 , @Caiwer123 này, 2 người có trúng giải k? Nếu không thì chúng ta đành cố gắng dắt nhau qua vòng tuyển đợt sau vậy, nhất định phải dành thắng lợi T.T
     
  11. Tuong tu

    Tuong tu Bơ Bơ Bơ Phéc Member

    Góp vui với thi các một bài nhé.

    Trả Lại Em
    Tác giả: Tương Tư


    downloadfile.jpeg

    Trả lại em kỉ niệm ngày xưa
    Thuở hai đứa về chung lối nhỏ
    Thuở hẹn hò trên đường đất đỏ
    Thuở cùng nhau dạo dưới cơn mưa.


    Trả lại em kỉ niệm của ngày xưa
    Trang lưu bút chứa nhiều thương nhớ.
    Khẽ trao tay, quay đi chẳng nói
    Bao hẹn thề lưu lại vào đây.

    Trả cho em luôn những tháng ngày,
    Tà áo trắng làm ta xao xuyến
    Nhành phượng thắm cho lòng lưu luyến
    Tan trường về mỏi mắt ngóng trông...



     
    Last edited: 19 Tháng tám 2015
  12. YOYo123

    YOYo123 Well-Known Member

    QUÊ HƯƠNG
    Tác giả: Tre Xanh
    [ @Bạch Cừu CTCN, @Âu Dương Tinh Vân, @Mạc Tuyết Y ]

    Quê hương là gì đâu?
    Luôn văng vẳng một câu...
    Nơi quê cha đất tổ,
    Lòng thương nhớ dài lâu.

    Quê hương là gì đâu?
    Ruộng đồng vàng bát ngát.
    Nơi đình làng, con trâu,
    Chốn xó nhỏ, thôn quê.

    Sông xanh, trôi hương mê..
    Bao trái táo, quả khế,
    Xum xuê trên cành cây!
    Chốn bình yên, nơi đây.







     
    Last edited: 17 Tháng tám 2015
  13. YOYo123

    YOYo123 Well-Known Member

    @@ :p :p Sau một hồi lượn lờ Tre Xanh post cái này cho mọi người! Đọc xong không biết có trau dồi vốn thơ cho các thi sĩ không?? [bổ sung các thể thơ khác @Diên Vĩ ]!!

    * Thơ 5 chữ:
    A. Luật làm thơ :
    - Thơ năm chữ là một thể thơ có từ lâu đời!
    - Cũng giống như thơ bốn chữ: nếu tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng, hay ngược lại.

    - Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo luật đó.


    B. Cách gieo vần:


    1. Vần tréo:

    Hôm nọ em biếng học
    Khiến cho anh bất bình,
    Khẽ đánh em cái thước
    Vào bàn tay xinh xinh!

    (Nguyễn Xuân Huy)

    Trước sân anh thơ thẩn
    Đăm đăm trông nhạn về
    Mây chiều còn phiêu bạt
    Lang thang trên đồi quê

    (Hàn Mặc Tử)

    2. Vần ôm

    Em không nghe rừng thu,
    Lá thu kêu xào xạc,
    Con nai vàng ngơ ngác
    Đạp trên lá vàng khô?

    (Lưu Trọng Lư)


    3. Vần ba tiếng bằng:

    Tuyết rơi trước đầu làng,
    Ga Ly-on đèn vàng.
    Cầm tay em muốn khóc,
    Nói chi cũng muộn màng.

    (Cung Trầm Tưởng)

    Đưa em về dưới mưa
    Nói năng chi cũng thừa
    Phất phơ đời sương gió
    Hồn mình gần nhau chưa?

    (Nguyễn Tất Nhiên)


    *Thơ 6 chữ:
    A. Luật làm thơ:
    - Giống luật của thơ 5 chữ.
    - Luật bằng, trắc:

    X X B X T X
    X X T X B X



    B. Cách gieo vần:


    1. Vần tréo:

    Quê hương là gì hở mẹ,
    Mà cô giáo dạy phải yêu.
    Quê hương là gì hở mẹ,
    Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

    (Đỗ Trung Quân)


    2. Vần ôm:

    Xuân hồng có chàng tới hỏi:
    Em thơ, chị đẹp em đâu?
    Chị tôi tóc xõa ngang đầu
    Đi bắt bướm vàng ngoài nội

    (Huyền Kiêu)


    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em tựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh vông vàng bên suối

    (Đinh Hùng)


    * Thơ yết hậu:

    Yết Hậu (yết: nghỉ; hậu: sau) là lối thơ có ba câu trên đủ chữ, còn câu cuối cùng chỉ có một chữ.

    Ví dụ 1: bài Lươn

    Cứ nghĩ rằng mình ngắn,
    Ai ngờ cũng dài đường.
    Thế mà còn chê trạch:
    Lươn!

    (Vô Danh)

    Ví dụ 2: Cha con đánh cờ

    Ánh nắng vừa nghiêng ngọn trúc già
    Cha con vui vẻ bày cờ ra
    Đồng xanh gió mát trà thơm ngát
    - Ha!
    Không - Một! Xưa nay ai chả lầm
    - Ván này...Thôi! Hết! Chốt xuyên tâm
    Lâng lâng quý tử ngâm thơ luật
    R...ầ...m!
    Trước ngõ chỏng chơ tướng sĩ bồ
    Ngoài sân cao thủ khóc nhi nhô
    - Nín ngay! sắp lại cho tao gỡ!
    - Dzô!
    Nắng đã khuất dần phía núi xa
    Cơm canh lên khói đợi trong nhà
    Dưới thềm xe ngựa còn rầm rộ
    - Chà!


    (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)


    **Nguồn: http://olympiavn.org/forum/index.php?topic=1057.0
    https://vi.wikipedia.org/wiki/Thơ
     
    Last edited: 18 Tháng tám 2015
  14. Đường Thiên Long

    Đường Thiên Long Well-Known Member

    Sớm buổi ban mai, ánh chiều tà
    gió làm man mác thổi hồn ta
    bâng khuâng một cõi, đường ta tới
    mây gió tình ta mãi phất phơ.

    Buồn!
     
  15. Mạn Nguyệt

    Mạn Nguyệt Administrator Staff Member Admin

    Bài 1

    Giấc mộng nào mà không tỉnh

    Có nỗi đau nào không thể vượt qua.
    Chỉ cần có thể thứ tha.
    Để lòng ta lại như xưa yên bình.


    Bài 2

    Đường tình ai bẻ làm đôi
    Gió mưa lạnh ướt mình tôi đi về.
    Lòng này đau đớn tái tê.
    Hận người sao nỡ phụ đan tâm phụ tình.


    Dạ Nguyệt.

     
  16. Miêu Kiêu Kì

    Miêu Kiêu Kì Well-Known Member Tác giả

    Bà con hội ý hộ:<cảm xúc dâng trào mãnh liệt khi chơi Kiếm Tam>
    Chốn phong sương mây gió đìu hiu
    Một tà áo làm tan cả nắng chiều
    Chút vô ưu chàng mang thanh bảo kiếm
    Cuốn tà áo, cuốn cả lòng thương yêu.

    Anh hùng chỉ biết bụi sa trường
    Tấm lòng nữ nhi hoá tơ vương
    Đời xanh trôi không rằng không bảo
    Chỉ chút ngần tâm can tư tương...
     
  17. Mạn Nguyệt

    Mạn Nguyệt Administrator Staff Member Admin

    Gửi em.
    [​IMG]


    Em là hoa, ta là gió
    Hoa tỏa hương thơm gửi gió mang đi.
    Tựa như một đóa lưu ly
    Làm ta ngây ngất mỗi khi ngắm nhìn.


    Em cười như ánh bình minh
    Sáng soi mở lối ân tình đôi ta.
    Mang theo ánh nắng chan hoà
    Yêu thương em gửi dù xa nghìn trùng.


    Ta chờ đợi buổi tao phùng,
    Nguyệt lão se mối chỉ hồng nên duyên.
    Ta xin giữ trọn ước nguyền,
    Tình kia vẹn nghĩa thuyền quyên đợi chờ.


    Tương Tư

     
    Last edited: 19 Tháng tám 2015
  18. Tuong tu

    Tuong tu Bơ Bơ Bơ Phéc Member

    Lưu Luyến
    Tác giả: Tương Tư


    downloadfile-1.jpeg
    Một người đưa tiễn một người đi
    Buồn sao giây phút sắp chia ly
    Sầu vương khóe mắt người có thấu
    Lưu luyến nhau chi biết nói gì?


     
  19. Tuong tu

    Tuong tu Bơ Bơ Bơ Phéc Member

    Bồ Công Anh
    hinh-nen-hoa-bo-cong-anh-dep-tinh-khiet-cho-ban-them-chon-lua-trang-tri-laptop-12.jpg

    Anh hỏi em thích hoa gì?
    Dã quỳ son sắt? Lưu Ly đợi chờ?
    Hoa hồng đẹp tựa như mơ?
    Hoa đào trong gió vu vơ nhớ người?
    Hoa phượng sắc đỏ khắp nơi?
    Hướng Dương chung thuỷ, chơi vơi giữa trời?
    Hoa mai như khẽ gọi mời?
    Tử Đằng bất diệt, một đời nhớ mong?
    Em cười nhìn chốn hư không
    Hoa em yêu nhất - Bồ công anh này.
    Hoa dại trong gió khẽ bay
    Làm ta ngây ngất đắm say đứng nhìn
    Vươn mình hứng ánh bình minh
    Tiên tri dự đoán duyên tình hai ta...
    (Tương Tư)​
     
    Last edited: 20 Tháng tám 2015
  20. Mạn Nguyệt

    Mạn Nguyệt Administrator Staff Member Admin

    Thất Tịch.

    Xót thương nàng Chức- chàng Ngưu
    Yêu nhau mà chẳng bên nhau suốt đời.
    Âu do phạm phải luật trời
    Vợ chồng chia cắt, ngậm ngùi đắng cay.


    Thất tịch mùng bảy hôm nay

    Có cầu Ô Thước để người gặp nhau.
    Cho vơi nỗi nhớ âu sầu.
    Vì người mỗi ngã, đôi bờ dòng sông.

    Thế tình lưỡng duyệt long đong
    Tiếc thay số phận không như ý mình.
    Mong cho thiên địa hữu tình
    Để người hữu ý được về bên nhau.


    Dạ Nguyệt.

    (
    Thân Tặng chị @Mạc Tuyết Y )
    Thơ em làm không được hay, nhưng là cả tấm lòng. Cám ơn chị nhiều nhiều.





     
    Last edited: 21 Tháng tám 2015

Chia sẻ trang này